Liên kết trực tuyến
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá
Thống kê
Khách online : 40
Số lượt truy cập :
Thần tổ Vũ Hồn - Mộ Trạch
Chuyện kể 3 di tích: Đống Dờm, Kiệt Đặc, Mộ Trạch của dòng họ Vũ – Võ Việt Nam (Phần 3)

 Mộ song táng Thủy tổ Vũ Hồn và phu nhân Hoàng Thị Trúc tại Khu mả thần, thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. 

Con cháu đã thỉnh cụ Vũ Hồn nhiều lần và lần nào chị Hằng cũng mời được cụ về cho tiếp kiến. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều điều muốn được cụ chỉ dẫn.

Trước tiên con cháu thưa với cụ: Sáng nay con cháu làm lễ đổ mái nhà Hạ Đường trong khu miếu thờ Cụ, có các cụ 70 – 80 tuổi lên nóc đổ mái. Cụ có về chứng kiến không? Cụ có hài lòng không và có điều gì cần dạy bảo?

Mấy giây trôi qua, chị Hằng nói ngay: Cụ bảo tốt. Làm nhà ở thì người trẻ lên nóc để mong ngôi nhà phát triển, ăn nên làm ra. Làm nhà thờ thì người già phải lên nóc vì nhà thờ mang ý nghĩa lâu dài, vĩnh cửu, giữ lấy gốc rễ. Điều này không ai bảo, ngẫu nhiên mà các cháu làm đúng, thế là báo trước điềm tốt. Cụ Vũ Hồn bảo trước đây làm khu long nhãn đã theo đúng lời cụ dặn, không chạm long mạch Cụ rất mừng, nay các cháu phải tiếp tục làm cho tốt. Việc làm đường ra Mả Thần, trồng cây đa trên đường đi (thầm mong sau này cũng thành cây đa 1000 năm), cụ đều biết và tỏ ra hài lòng. Con cháu yên tâm phấn khởi.

Khi hỏi Cụ về đường vợ con và tên cụ song táng ở Mả Thần, chị Hằng đã nói lại những lời rất sâu sắc và cảm động của cụ Vũ Hồn: Cụ bảo Cụ có hai vợ, hai thôi chứ không có nhiều. Một cụ do cụ Huy (bố Cụ) lấy cho ở Phúc Kiến, lúc lấy cụ Vũ Hồn không có nhà, người đàn bà ấy tên là Yacra Vân Nhi, người Mãn Châu, cụ bảo lấy bà này là để bang giao, bà vợ Nam Việt mới là do Cụ chọn, tên cụ bà người Việt là Hoàng Thị Trúc, mà Cụ gọi đầy đủ là Hoàng Thị Chính Thất Húy Trúc. Mộ song táng ở mả thần là bà Trúc, quê ở làng Mạc Xá gần Mộ Trạch (chị Hằng đã phải hỏi lại Cụ rất kỹ là Trúc đi với chữ trúc mai, tre trúc hay chúc mừng, chúc tụng? Cụ bảo rành rọt là trúc mai).

Lúc cụ Vũ Hồn xây dựng ấp ở Mộ Trạch mà Cụ gọi là Khả Mộ, bà Trúc sang làm. Bố bà Trúc là người đã giúp Cụ xây dựng ấp. Cụ hết lời khen ngợi cụ Trúc là thông minh làm nhiều việc tốt, cụ bảo con dâu họ Vũ rất “thông minh, tháo vát”, cụ Đức cũng vậy. Cụ kể chuyện ngày ấy hạn rất nặng, dân làng không ai có nước ăn, nàng Trúc (Cụ gọi âu yếm là nàng) nói cho Cụ biết khi nàng cùng chúng bạn đi tát nước đã quan sát có một điểm không lúc nào cạn nước, rồi dẫn cụ Vũ Hồn đi tìm nhiều đêm liền. Tìm suốt cả một tuần, sau cho dân làng ra đào, ngày đêm ròng rã hàng tháng trời mới có nước cho dân làng ăn (không biết có phải giếng chùa ngày nay không). Đêm nào cụ Trúc cũng ra nấu cháo cho người đào giếng ăn. Cụ Vũ Hồn nhắc lại bà này tốt lắm, làm được rất nhiều việc tốt, nên đương thời có lúc dân làng tôn vinh cụ Trúc hơn cả cụ Vũ Hồn. Cụ bảo lúc ấy chưa có nhiều tiền, đào giếng nhờ vào tiền của họ Hoàng, do họ Hoàng công đức đầu tiên và quyên góp của các môn sinh. Đúng là hành động cao cả, hết lòng giúp muôn dân.

- Con cháu muốn biết hai ngôi mộ song táng ở Mả Thần thì mộ nào là cụ Vũ Hồn, mộ nào là cụ Trúc?

Chị Hằng vừa hỏi vừa ra hiệu trái phải để nghe Cụ định hướng, khi hiểu rồi chị Hằng nói rất rành rẽ thế này: Cụ bảo đứng quay mặt lên làng, bên trái là mộ Cụ, bên phải là mộ cụ Trúc. Cụ còn bảo theo phong tục Trung Quốc thì người vợ bao giờ cũng ở bên tay trái của chồng, làm gì cũng vậy, khi chết cũng chôn thế.

Cụ Vũ Hồn với cụ Yacra Vân Nhi ở Phúc Kiến chỉ có một con gái. Với cụ Hoàng Thị Trúc ở Việt Nam, hai Cụ sinh được 7 người con, 1 trai chết sớm, trưởng thành 6: 4 trai, 2 gái, mà Cụ gọi là tứ tử trình làng, nếu được cả 5 trai là ngũ tử. Cụ Vũ Tiên Oanh nói rõ tên từng người: Con trai đầu là Vũ Thường cho về Phúc Kiến chịu tang cụ Vũ Công Huy, ông nội giữ lại trông nom trang ấp của ông. Ba trai sau đều ở Việt Nam, Vũ Trác di dời vào Trường Yên sau chuyển ra Đại La. Cụ bảo đất Trường Yên lúc ấy của nhà Lê, nhà Đinh đóng đô, Vũ Trác vào làm tướng. Vũ Văn xuôi thuyền về Thái Bình phát triển nghề đánh cá và buôn bán. Cụ Vũ Hồn còn nói vui: - Cái thằng Vũ Văn này không chịu học nhưng làm cái gì cũng giỏi. Vũ Hựu vào miền Trung theo nghề nghiên bút.

Về hai người con gái của cụ Vũ Hồn, cụ Vũ Tiên Oanh nói cháu Cụ tên là Vũ Dạ Quỳnh và Vũ Nhật Mai. Vũ Dạ Quỳnh làm thiếp trong triều tiền Lê, Vũ Nhật Mai thì vào triều Lý, cả hai được các công hầu của họ Lê, họ Lý lấy làm vợ được phong Chiêu Nghi. Cụ bảo đã có lần quan quân nhà Lý kéo nhau về đây (tức gò mộ Đống Dờm) để chiêm bái mộ Cụ chứ không phá phách gì.

Nghe cách nói diễn tả của chị Hằng, chứng tỏ Cụ rất yêu quý các cháu gái Cụ. Cụ bảo các cháu cố tìm trong phơ ý họ Lê, họ Lý nếu thấy Dạ Quỳnh, Nhật Mai thì đúng là con gái Vũ Hồn đấy. Vũ Nhật Mai là con gái út của Vũ Hồn. Cụ dùng cách nói có tính chất lý sự “đã được phong Chiêu Nghi rồi thì phải có trong phơ ý chứ”.

Nghe đến đây anh Võ Văn Hồng vội vã nháp cây phả hệ từ cụ Vũ Tiên Oanh tiếp nối 4 đời ở Việt Nam đưa chúng tôi xem:

Vũ Tiên Oanh

 

Vũ Công Huy

(Nguyễn Thị Đức)

 

Vũ Hiền 

Vũ Hồn

(Hoàng Thị Trúc) 

Vũ Niệm Vy

 

Vũ Thường

Vũ Trác 

Vũ Văn 

Vũ Hựu 

Vũ Dạ Quỳnh 

Vũ Nhật Mai

 

Dù chưa được phép coi đây là chính phả, nhưng nó cũng cho chúng ta hình dung họ Vũ Việt Nam đến đời con cháu cụ Vũ Hồn đã phát triển ra nhiều nhánh đi rất nhiều nơi. Gần đây có ông Vũ Hữu ở làng Đại Bá, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh gửi thư cho chúng tôi khẳng định dòng họ Vũ ở Đại Bá có lịch sử hơn 1000 năm, cụ tổ họ Vũ ở đây đồng thời là cụ tổ dạy nghề đúc đồng cho dân chúng và cũng là thành hoàng làng nhân dân thờ cúng. Ông Hữu nói có ít nhất 5 di tích còn được lưu giữ làm căn cứ cho gia phả họ Vũ, so ra cũng tương đương với con cháu cụ Vũ Hồn.

Khi hỏi về con cháu các cụ ở Phúc Kiến phát triển thế nào? chị Hằng cho biết cụ Vũ Tiên Oanh bảo vẫn còn ở Mã Kỳ. Vũ Thường về sinh sống, sau cụ Vũ Hồn có về đây mở lớp dạy tiếng Việt mấy năm liền, bây giờ họ vẫn nói, các cháu tìm về đấy đi, tìm được thì rất tốt. Cụ còn bảo Vũ Hồn đang ở đây cũng mới về Phúc Kiến dạy tiếng Việt.

Về kế hoạch xây dựng nhà bia trong khu miếu thờ cụ Vũ Hồn ở Mộ Trạch, ban kiến thiết còn nhiều băn khoăn vì chưa hình dung được thiết kế trong nhà bia thế nào cho hợp lý. Chị Hằng diễn giải chỉ dẫn của cụ Vũ Hồn: Cụ bảo xây dựng nhà bia phải hình thành 3 khu: Một để ghi những người thành đạt trong thời trước, tính từ cụ Vũ Hồn đến hết thời phong kiến; Một để ghi những người thời hiện tại; còn một để lại cho con cháu sau này ghi tiếp. Cụ nói ba giai đoạn thế hệ, dòng họ Vũ làm gì cũng phải nghĩ đến tam tam. Với mỗi người phải ghi rõ đỗ đạt năm nào, đời nào, có bằng sắc phong kèm theo. Chị Hằng kể cụ Võ Văn Trình nghe đến đây cười rất hóm hỉnh “Ghi hết bằng sắc phong thì riêng cụ Vũ Hồn đã phải hàng chục cái bia. Cụ Vũ Hồn có nhiều sắc phong lắm, khi chết rồi vẫn được sắc phong, đến đời Minh Mạng, Tự Đức vẫn sắc phong cho Cụ. Cụ linh thiêng mỗi lần làm được điều gì phù hộ cho đất nước là các triều vua đương thời lại sắc phong tưởng nhớ công ơn Cụ”. Cụ Trình bảo Cụ nghe hết rồi, các cháu làm có vướng Cụ sẽ chỉ cho. Bây giờ đã dến lúc các Cụ phải đi.

Chỉ nghe chị Hằng lễ phép chào với theo “Con xin chào các cụ ạ! Con chào cụ Trình ạ!”, hình như cụ Trình đi sau cùng.

Con cháu sụp lạy trước bia mộ, ngẩng lên tôi thấy anh Vũ Mạnh Hà vẫn đang lung túng với giấy bút trên tay. Lúc này trước gò mộ trời đang lộng gió, anh Hà được phân công thiết kế nhà mồ nên có lẽ anh chăm chú nghe và ghi không sót lời các Cụ.

Tượng Đức Thần Tổ Vũ Hồn - Thủy tổ dòng họ Vũ - Võ Việt Nam, Thành hoàng làng Mộ Trạch tại Miếu thờ làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

Quang cảnh khu miếu thờ Đức Thần Tổ Vũ Hồn tại làng Mộ Trạch, xã Tân Hồng,

 huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

 

Mộ song táng Thủy tổ Vũ Hồn và phu nhân Hoàng Thị Trúc tại Khu mả thần, thôn Mộ Trạch, xã Tân Hồng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương

 

Gò Đống Dờm, ngày 11 tháng 4 năm 2003

(tức 10/3/năm Quí Mùi)

Vũ Kim Tường ghi

(Phó chủ tịch Hội đồng dòng họ Vũ – Võ Việt Nam)

(Vũ Thọ Đạt sưu tầm)

Bài viết liên quan