Liên kết trực tuyến
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá
Thống kê
Khách online : 36
Số lượt truy cập :
Thần tổ Vũ Hồn - Mộ Trạch
Thân thế sự nghiệp của Thần tổ Vũ Hồn

Tài liệu thư tịch đầu tiên chép về Vũ thần tổ là bản Ngọc phả lưu ở miếu thờ thần tổ Vũ Hồn làng Mộ Trạch. Bản ngọc phả này có thể sao lại từ bản được Nội các Bộ Lại sao vào ngày tốt, tháng trọng thu (tháng 8), năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740) từ chính bản do Hàn lâm lễ viện, Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn vào ngày tốt, tháng mạnh xuân (tháng Giêng) năm Hồng Phúc nguyên niên (1572). Bản sao ngọc phả hiện nay có thể thuộc thế hệ thứ 6 hoặc thứ 7 (?).

Ngọc phả có đoạn viết:

…Năm Tân Mùi, thời Đường Đức Tông, có một người ở phủ Thường Châu (Trung Quốc) nối được nghiệp nhà tên là Vũ Công Huy; đường làm quan của ông hiển đạt. Vợ cả là Lưu Thị Phương đã ngoài 60 mà trong mộng chưa thấy hùng bi, ngoài cửa chưa treo cung hồ thỉ (chưa có con trai). Cảnh muộn mằn khiến ông buồn rầu không vui, thường than rằng; Vàng núi, thóc bể khinh như cỏ rác; con hiếu cháu hiền trọng như vàng ngọc. Ông bèn tạ ơn triều đình trả chức xin hồi hương. Vua Đường chuẩn y, lại cấp cho ông xe ngựa, châu báu. Ông về quê sống cảnh an nhàn. Ông tinh thông phong thủy, thông hiểu phép địa lý chính tông.

 

Có thời gian ông sang Nam Việt vãng cảnh sơn thủy, khi đến trang Mạn Nhuế, thuộc huyện Thanh Lâm, trấn Hải Dương thấy một khu đất có thế sơn thủy bao quanh, long hổ cùng chầu lại. Ông lập tức quay về đem cốt của tổ tiên sang táng vào khu đất ấy tại xứ Đống Già (tức Đống ờm). Thuở ấy ở trang Mạn Nhuế có người con gái tên là Nguyễn Thị Đức tuổi vừa đôi tám, tính hạnh đoan trang, ngôn dung uyển nhã; nếp nhà thi lễ, truyền đã nhiều đời. Ông lấy làm bằng lòng mà yêu. Nói rằng: Nàng mày ngài, má đào, lưng liễu dáng vẻ như tiên thực là quốc sắc. Phúc địa sinh phúc nhân quả không sai. Ông bèn mượn hồng điệp đưa mối cầu hôn. Nàng tới tuần cập kê, thật là thiên lý kỳ duyên. Hai người cùng nhau kết tóc se tơ thành chồng vợ. Từ đó ông tạm cư ngụ ở nơi quê ngoại. Được hơn một năm, có lần Nguyễn Thị Đức mộng thấy người thần đem quả đào tiên, nàng nuốt lấy; sau tỉnh dậy rồi nói chuyện với chồng. Ông nói rằng: Đó là điềm lành. Vợ chồng bèn đưa nhau về Bắc quốc. Sau đó Nguyễn Thị Đức mang thai. Đến ngày 8 tháng giêng, năm Giáp Thân, đêm ấy có một đám mây vàng hình tròn như chiếc tán che phủ trước sân, rủ xuống tới đất. Nguyễn Thị sinh hạ một thần nhi, thiên tư tuấn tú, khí chất hiên ngang dáng vẻ thật lạ thường. Ông bèn đặt tên cho con là Hồn. Bảy tuồi Hồn đi học; sách vở xem qua một lượt là nhớ hết. Mười hai tuổi đã tinh thông văn chương, qua cửa Trình, Chu. Lại còn dốc chí cung tên hay đọc binh thư, tinh thông văn võ, rõ là bậc anh tài. Năm 16 tuổi thi Đình, học lực tinh thông, trên thông thiên văn dưới tường địa lý, việc gì, vật gì cũng thông hiểu. Vua cho đó là nhân tài bậc nhất của thiên hạ, phong cho làm chức quan Lễ bộ tả thị lang; ban cho xe ngựa, mũ áo về vinh quy.

Vũ Hồn về bái tạ từ đường tổ tiên, sau đó hồi triều nhậm chức. Hai năm sau được thăng làm Đô đài ngự sử, hơn năm sau nhận mệnh của vua Đường Kinh Tông năm Bảo Lịch nguyên niên (825) lấy tên là Hàn Thiều nhậm chức Giao Châu Thứ sử. Đến thời Đường Vũ Tông, năm Hội Xương (841), Vũ Hồn được tiến thăng An Nam Đô hộ Kinh lược sứ thay người tiền nhiệm là Hàn Ước. Khi ngài phụng chiếu đến Nam Việc tuần thú, kính lý thiên hạ đã đến trang Mạn Nhuế, huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương (tên cổ là Hồng bộ, sau đổi là Dương Tuyền). Ngài vào làm lễ bái yết mộ tổ. Lại đi đến trang Khả Mộ, huyện Đường An, phủ Bình Giang thấy trang ấy sơn thuỷ hữu tình, long chầu hổ ấp, nội sào ngoại sào, tả phù hữu bật, năm con ngựa chầu đằng trước, bảy ngôi sao chiếu đằng sau, thần đồng đứng hai bên, bảng bút bày sẵn thật là nơi đất phát tổ Tiến sĩ.  Ngài bèn ghi chép vẽ thành địa đồ.

Khi trị nhậm Giao Châu, ngài được lệnh đắp La Thành kiên cố, sai tướng sĩ tiến hành gấp công việc không kể ngày đêm. Nhân do quân ở phủ làm loạn, ngài phải bỏ phủ thành chạy về Quảng Châu. Giám quân Đoàn Sĩ Tắc tiếp quản mà vỗ yên loạn binh, phủ thành lại ổn định. Đến năm Bính Dần, Hội Xương năm thứ 6 (846) người Man Nam Chiếu vào cướp phủ thành. Ngài lên một chiếc xe nhẹ về Bắc quốc xin lệnh của vua. Vua Đường sai Bùi Nguyên Dụ làm Kinh lược sứ, xuất binh đánh bại người Man Nam Chiếu.

Được một năm, vua xuống chiếu vời ngài về triều. Ngài cho rằng, người xưa được một ngày nuôi cha mẹ, dẫu làm quan Tam công (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) cũng không sướng bằng. Nay còn có mẹ già há nên tham muốn giàu sang mà không nghỉ đến sự hiếu dưỡng hay sao? Bèn dâng biểu xin từ quan, nộp lại chức về nhà nuôi dưỡng mẹ già. Vua thuận tình ban cho tiền vàng, gấm vóc. Ngài về ngay quê nhà đón mẹ già sang sống ở Việt Nam; cho thiết lập một tranh ấp ở Khả Mộ làm nơi phụng dưỡng mẹ già và khyến dân chuyên làm điều lợi trừ việc hại, có lễ nghĩa, nhà nhà giàu thịnh; đấy là công đức của ngài vậy. Dân chịu ơn đó và coi ngài thân thiết như cha mẹ. Khi dân làm lễ, nhân đó xin rằng: Nay lâu đài làm chổ ở, về sau làm mộ tự, ngài hứa cho vậy và bảo rằng: Trang khu có hậu thì phải trọng di mệnh của ta. Vạn năm về sau trang khu không quên thờ cúng. Ngài lại cho thêm 5 nén vàng, tậu ruộng, ao làm việc hậu, cúng tế. Chúng dân đều vâng theo, cho thôn sở tại trông coi việc tế tự. Khi ấy đức thánh Mẫu già, bệnh đã lâu, thuốc thang, cầu đảo thần không hiệu đã mất. Ngài khóc than kêu trời rất thương xót; rước linh cữu lên táng ở trang Kiệt Đặc, huyện Thanh Lâm, (nay thuộc huyện Chí Linh). Từ đường hương khói được 3 năm thì mãn tang; khi ấy ngài 49 tuổi. Vào ngày 3 tháng 12 khi ngài đang ngồi ở học đường, bổng nhiên trong người thấy bất an, không bệnh mà mất. Táng tại xứ Đống Dị, đầu bản trại. Bỗng nhiên trời đất tối sầm, mây mù che kín. Một giờ lâu trời quang đã thấy kién mối đùn đắp đất thành một ngôi mộ lớn. Nhân dân và gia thần đều kinh hãi, lập tức đem về đó trình báo lên quan huyện. Huyện quan làm sớ tâu vua. Vua bèn truy nguyên lúc bình nhật, sắc phong làm phúc thần, lại phong: Đương cảnh thành hoàng, lâu đài cư sĩ, linh ứng Đại vương. Sắc chỉ cho Thượng khu , trang Khả Mộ lên kinh thành rước mỹ tự về lập miếu phụng thờ; truyền khu cấm địa ấy gọi là Mả Thần, sở tại ức niên hương hỏa, kính vậy thay.

Lại nói rằng:

Từ đấy về sau vẫn thường linh ứng. Các triều đại đế vương đều có sắc phong thêm mỹ tự cho Đại vương.

Đến đời Trần Nhân Tông, quân Nguyên- Mông xâm chiếm nước ta; kinh thành bị thất thủ; Trần Quốc Tuấn phụng mệnh vua cầu đảo bách thần phù giúp; đức thần tổ ta hiển ứng ngầm giúp (âm phù). Khi bình được Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, vua bèn phong thêm mỹ tự cho đại vương:

Thông minh trí tuệ hùng kiệt trác vi thượng đẳng thần.

Đến thời Lê Thái Tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn, dẹp lũ Mộc Thạnh, Liễu Thăng ở Chi Lăng; 10 năm yên được thiên hạ, lại phong thêm mỹ tự cho thần:

Tế thế an dân linh phù ngưng hữu thượng đẳng thần.

Sắc ban cấp cho Thượng khu; trang Khả Mộ trùng tu miếu vũ, thịnh vượng tốt đẹp thay. Vâng khai ngày sinh, ngày hóa và chữ húy, nhất thiết không được mạo dụng. Chữ bên tả là bộ thuỷ, chữ bên hữu là bộ quân, ghép lại là chữ “Hồn”. Cho Thượng khu, trang Khả Mộ lấy ngày sinh thần 8 tháng Giêng làm chính lệ. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, ca xướng, đánh cờ, đu tiên. Các trò đó chỉ chơi trong 10 ngày. Ngày hóa của thần là ngày 3 tháng 12 (Chạp) lấy làm chính lệ. Lễ dụng tuỳ nghi, ca xướng thì cấm.

 

……......

Bài này chủ yếu sử dụng phần trích Ngọc phả Vũ tộc trong bản tham luận”HUYỀN TÍCH VÀ LỊCH SỬ VŨ HỒN – THUỶ TỔ, THẦN TỔ HỌ VŨ (VÕ) Ở MỘ TRẠCH” của Tiến sĩ Vũ Duy Mền.- Do sử dụng nguồn Internet nên khi đăng, chúng tôi có tham khảo đối chiếu thêm những  tài liệu khác như “Đại Việt Sử ký toàn thư”, Wikipedia,… và ý kiến của các nhà chuyên môn để điều chỉnh một số chi tiết, từ ngữ. – Ban biên soạn VŨ TỘC TINH HOA

Bài viết liên quan