Liên kết trực tuyến
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá
Thống kê
Khách online : 46
Số lượt truy cập :
Tổ tông - Nguồn cội
Vũ Phạm Hàm - Vị tam nguyên Thám hoa cuối cùng của chế độ thi cử Hán học nước ta

 Các triều đại phong kiến tự chủ nước ta, các vị minh quân đều đặc biệt quan tâm đào tạo nhân tài qua các kỳ thi tuyển gồm 3 khoa: Hương, Hội, Đình với quy chế thi nghiêm minh chặt chẽ. Phan Huy Chú cho rằng: “Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Lê Hồng Đức (1470-1497). Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp… Trong nước không để sót nhân tài, triều đình không dùng lầm người kém. Bởi thế điền chương được đầy đủ, chính trị ngày càng hưng thịnh (Khoa mục chí - Lịch triều hiến chương loại chí).

“Nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê… Thể lệ thi cử vẫn theo lệ ba năm mở một khoa, dẫu bận chiến tranh vẫn không bỏ thi cử, vì thế (tìm) được nhiều (người) tài giỏi, giúp việc giữ nước chống với nhà Lê, kéo dài đến hơn 60 năm, ấy cũng là cái công hiệu của khoa cử”. (Phan Huy Chú - Khoa mục chí Sđd).

Thời Lê Trung Hưng, “Văn chương thi cử so với lúc [nhà Lê] mới mở nước khác nhau rất xa… Đổi suy ra thịnh, đổi kiêu bạc ra thuần hậu”. (Phan Huy Chú  - Khoa mục chí Sđd).

Đến đời Nguyễn, vua Minh Mạng đã sớm phát hiện sự học hành thi cử của nước ta thời ấy sai lầm, sĩ phu đi học chỉ theo lối cử nghiệp, nghĩ là học chỉ cốt lấy thi đỗ, chứ không mấy người có thực học; nhà vua cố gắng sửa dần tệ tục ấy.

Nước ta tính từ khoa thi năm Ất Mão (1075) đời Lý đến khoa thi Hội cuối cùng năm Kỷ Mùi (1919) đời Nguyễn trong vòng 884 năm, các triều đại phong kiến tự chủ đã mở 188 khoa, lấy đỗ 2971 Tiến sĩ các loại.

Riêng triều Nguyễn (1802 – 1945) đã tổ chức 39 khoa, tính từ năm 1822 đến năm 1919, lấy đỗ 292 Tiến sĩ các loại, trừ học vị Trạng nguyên không đặt. Chính vì thế, Vũ Phạm Hàm đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ đệ nhị danh mà dân quanh vùng còn gọi là: quan Trạng Đôn Thư. Trong số Tiến sĩ được xếp hạng xuất sắc của triều Nguyễn chỉ có 3 vị đỗ đầu 3 kỳ thi Hương, Hội, Đình, thường gọi Tam nguyên gồm Vũ Phạm Hàm, Trần Hy Tăng (Bích San), Nguyễn Khuyến.

Tự Đức, một ông vua nổi tiếng hay chữ rất tự hào dưới triều đại của Ngài đã có 2 vị Tam nguyên qua câu:

Vị Xuyên tiền, Yên Đổ hậu, lục niên tiền hậu lưỡng Tam nguyên.

Vị Xuyên (quê Trần Hy Tăng) trước, Yên Đổ (quê Nguyễn Khuyến) sau, trước sau 6 năm có 2 Tam nguyên.

Ba vị trên chỉ có Trần Hy Tăng đỗ đầu liền 3 khoa và Vũ Phạm Hàm giành học vị Thám Hoa, còn Trần Hy Tăng và Nguyễn Khuyến có học vị Hoàng giáp còn gọi Đệ nhị giáp Tiến sĩ cập đệ, Đệ nhị danh.

Vũ Phạm Hàm nguyên họ Phạm, quê tổ ở châu Ái (Thanh Hóa nay); đến thế kỉ 14, có 3 anh em họ này di cư ra Bắc, một định cư ở Đông Ngạc, một ở Đôn Thư, một ở Bát Tràng. Vốn dòng dõi Nho gia nhiều người đậu đạt, nổi trội là họ Phạm làng Đông Ngạc, làng Đôn Thư.

Vũ Phạm Hàm sinh năm 1864, là con tú tài Vũ Phạm Dự và bà Nguyễn Thị Lượng, em gái quan Giáo thụ phủ Nghĩa Hưng. Ông nổi tiếng thông minh cường ký, đương thời coi là thần đồng, thưở nhỏ học với cha, năm 12 tuổi ra Hà Nội học. Đốc học Hà Nội lúc ấy là Đình nguyên Hoàng Giáp Vũ Nhự (1840 – 1886). Quan đốc mến tài nhận ông làm con nuôi. Sau Ngài phải về triều nhận chức Tham tri bộ Lễ đã nhờ danh sĩ Phạm Hy Lượng dạy con nuôi. Khoa Hương Kiến Phúc thứ nhất (1884) Vũ Phạm Hàm đỗ Giải nguyên, năm Đồng Khánh I (1886) được bổ nhiệm chức Giáo thụ phủ Kiến Thụy (gồm 4 huyện Nghi Dương, An Dương, An Lão, Kim Thành) tương đương chức Trưởng ty giáo dục cấp tỉnh. Khi dạy ở Kiến Thụy, ông đã đào tạo được nhiều học trò như các cử nhân Trần Văn Mai ở Đại Lộc, Nguyễn Quang Bích ở Tiểu Bàng đều thuộc huyện Kiến Thụy này, Nguyễn Quang Đoan ở Phú Kê, huyện Tiên Lãng. Các cử nhân Trần Văn Mai, Nguyễn Quang Bích không ra làm quan, có tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Còn Nguyễn Quang Đoan được thầy đưa về Hà Nội xin cho làm Huấn đạo huyện Hoàn Long. Rất tiếc ông Huấn này chết trẻ.

Chân dung cụ Thám Hoa Vũ Phạm Hàm

Năm Thành Thái 4 (1892), thi Hội đồ Hội nguyên, thi Đình, ông đỗ Đình nguyên Thám Hoa lúc 29 tuổi. Ông làm quan trải thăng từ chức Giáo thụ phủ Kiến Thụy rồi Đốc học các tỉnh Hà Đông, Ninh Bình, Hà Nội; rồi Án sát sứ tỉnh Sơn Tây. Khi giữ chức Đốc học Hà Nội, ông còn tham gia Đại Nam Đồng Văn nhật báo, một tờ báo ra đời lúc phong trào yêu nước Duy Tân và Đông Kinh nghĩa thục. Ông lại có quan hệ thân thiết với bạn đồng khoa Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền, cộng sự thân thiết của chí sĩ Phan Bội Châu. Qua một số môn sinh ở Kiến Thụy, Tiên Lãng cũng như câu đối của ông đề ở đền Trung Liệt, Hà Nội thờ các anh hùng hy sinh vì nước thấy ông giữ trọn nghĩa khí:

Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa

Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự cộng thanh thiên

Dịch nghĩa:

Này thành quách, này giang sơn, trăm trận phong trần còn dư thước đất

Làm trăng sao, làm sông núi, mười năm tâm sự chung một bầu trời

Thời ấy, Vũ Phạm Hàm không chỉ nổi tiếng là nhà giáo thanh bạch, một ông quan thanh liêm gần dân mà còn được hâm mộ về tài văn chương. Ông sáng tác nhiều thơ văn đủ các thể loại, chủ yếu bằng chữ Hán gồm:

 1.         Kinh sử thi tập

2.         Tập Đường thuật hoài

3.         Mộng Hồ gia tập

4.         Thư trì thi tập (Thơ)

5.         Thám hoa văn tập

6.         Cầu Đơ tỉnh nhãn phú

7.         Hà Kiều thành phú

8.         Nhị Kiều khan binh thư phú (Văn)

 Rất tiếc, khi đang độ tài năng phát triển thì ngày 8-7-1906 (Tức 17-5 Bính Ngọ), danh sĩ Vũ Phạm Hàm ốm qua đời tại quê nhà, hưởng dương có 43 năm.

Dòng họ, chi phái ông chủ yếu theo đòi nghề dạy học, theo tộc phả có cụ Phạm Vũ Phác (tức Quyền) được vua Gia Long cử giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám.

Các ông GSTS Phạm Vũ Luận, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, TS Phạm Vũ Câu, nguyên Trưởng ban Giáo dục chuyên nghiệp, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng là cháu đời thứ tư Thám hoa Vũ Phạm Hàm.

                                                                                          Ngô Đăng Lợi

Bài viết liên quan