Liên kết trực tuyến
Thời tiết
Giá vàng
Tỷ giá
Thống kê
Khách online : 32
Số lượt truy cập :
Truyện ký
Võ Tánh bi tráng kí - hồi thứ ba (BÃO VŨ)

 

HỒI THỨ BA

Đầm Thị Nại lẫy lừng sánh ngang Xích Bích (4)

Võ Quận công trung liệt so tựa Thiệp Nhàn (5)

 Lại nói về tùy tướng Võ Cương. Trong khi Vũ Bá Trung một mình kiềm chế quân Tây Sơn trên bờ Bắc, Võ Cương nhảy xuống thuyền câu vùn vụt chèo đi. Quân địch trên bờ xạ tiễn theo như mưa. Võ Cương đã đầy mình thương tích, lại trúng thêm một mũi tên nữa trên vai, vẫn gượng đưa thuyền vượt sông. Chiến mã trung thành của chàng từ đầu trận vẫn bám theo chủ, lúc qua sông cũng bơi theo. Sang đến bờ Nam, Cương lên ngựa phi về hướng thành Phú Yên nơi quân Nguyễn đang trấn giữ. Những vết thương trên mình không ngừng rỉ máu, khi còn cách thành Phú Yên hơn nửa dặm, Võ Cương lảo đảo gục trên mình ngựa, ngất đi. Quân tuần tiễu Phú Yên bắt gặp tướng nhà bị trọng thương, vội đưa về thành cứu chữa. Võ Cương hồi tỉnh, bảo có việc hệ trọng cần trình Nguyễn Vương. Khi ấy dù đã gần sáng Nguyễn Vương vẫn đang ngồi cùng Tả quân Lê Văn Duyệt bàn phương sách giải vây thành Bình Định. Võ Cương được đưa vào quỳ dưới trướng tâu:

- Tiểu tướng Võ Cương xin trình tấu thư của tướng quân Võ Tánh.

Nói rồi xé lần vải lót của chiếc áo bào mà Võ Nguyên Trực khoác cho Võ Cương, lấy ra bức mật tấu thấm máu của anh em họ Vũ-Võ dâng lên Nguyễn Vương. Thì ra chuyện nuốt mật thư chỉ là kế của Võ Nguyên Trực lừa dụ quân Tây Sơn. Nguyễn Vương tiếp tấu thư đọc liền một mạch. Xong, nhìn viên tùy tướng thân hình đẫm máu quỳ dưới trướng, hỏi: “Ngươi đến đây như thế nào?”

Võ Cương tâu thuật chuyện vượt trùng vây của ba anh em Vũ - Võ. Nguyễn Vương ngậm ngùi: “Lòng trung của Võ Tánh sáng như trăng sao. Các tùy tướng của ông ta cũng là những bậc kiệt hiệt trung nghĩa. Sau đây ta sẽ phong thưởng cho các tướng.   

Rồi nói cùng Lê Văn Duyệt: “Tấu thư của tướng quân Võ Tánh dâng kế “vây Ngụy cứu Triệu”, khuyên ta chưa giải vây cho Bình Định, để giữ quân của Trần Quang Diệu tại đó, mà đem quân đánh Thị Nại phá tan thủy quân của Tây Sơn. Tả tướng quân nghĩ thế nào?”

Duyệt nói: “Thành Bình Định cạn lương từ lâu, nên việc giải vây là cần kíp. Còn đầm Thị Nại hiện nay là toàn lực thủy binh Tây Sơn gồm gần 2000 thuyền chiến. Hai bên cửa vịnh lại có các hải đồn đặt đại pháo bắn chặn. Ta hai lần đánh Thị Nại đều không thành. Đánh Thị Nại lúc này chưa được.

Nguyễn Vương nói: “Ta thì nghĩ tướng quân Võ Tánh hữu lý. Hai lần trước đánh Thị Nại chưa thắng bởi hải pháo trên các đồn ấy. Lần này cho quân bộ đánh hạ các đồn rồi cùng lúc dùng hỏa công đốt phá các thuyền trên mặt vịnh. Mùa này gió Nam mạnh, dụng kế hỏa công sẽ đại thắng như Khổng Minh phá Tào trên sông Xích Bích khi xưa. Thủy binh của Võ Văn Dũng mà tan thì quân bộ của Trần Quang Diệu đang vây thành cũng sẽ hoảng loạn, khi ấy giải vây sẽ dễ hơn. Ta theo kế sách Võ Tánh quyết định như vậy. Truyền các tướng đến bàn định việc đánh Thị Nại.

 

Ngày Rằm tháng Giêng năm Tân Dậu (1801), Nguyễn Vương thân thống lĩnh đại quân thủy bộ tiến đánh Thị Nại. Hai tướng Nguyễn Văn Trương, Tống Phúc Lương lĩnh ấn tiên phong. Trung quân hạm đội do Tả quân Lê Văn Duyệt và Đô đốc Võ Duy Nghi chỉ huy. Nguyễn Vương còn cho đưa theo ba chiến hạm của hải quân Phan-Lang-Sa để trợ chiến. Gồm tàu Phượng Phi (Le Phénix) do Vân Nhĩ (Vannier) chỉ huy; tàu Long Phi (Le Dragon) do Sái Như (Chaigneau) chỉ huy và tàu Bằng Phi (L’aigle) do Đồ Phổ Sơn (De Forsans) chỉ huy (6).

Đêm hôm sau, Nguyễn Vương mật sai tướng Hoàng Văn Khánh đem quân đổ bộ tiến đến các hải đồn Tây Sơn, chờ hỏa hiệu phát thì đánh chiếm các hải đồn ấy, cướp hải pháo bắn vào thuyền Tây Sơn. Lại sai tướng Phạm Văn Nhân dẫn quân đến đường hẻm sau núi mai phục chờ chặn đánh quân bộ của Trần Quang Diệu từ thành Bình Định đến giải cứu quân thủy. Nguyễn Vương thân đem thủy quân tiến phát. Canh ba thủy quân qua vũng Tiêu Cơ, bắt được thuyền tuần tra của Tây Sơn, khảo lấy được mật khẩu, bèn sai Nguyễn Văn TrươngTống Phước Lương dùng thuyền nhỏ cải trang thành thuyền Tây Sơn, chất hỏa khí lẻn vào trong vịnh chờ phóng hỏa.

Đúng giờ Dần, Nguyễn Vương lệnh phát hỏa hiệu, truyền Võ Di Nguy đưa chiến thuyền xông thẳng vào vịnh, Lê Văn Duyệt đốc quân tiếp theo. Quân Tây Sơn do Đô đốc Võ Văn Dũng thống lĩnh cự chiến quyết liệt đến giờ Ngọ, tiếng súng vang trời, đạn bay như mưa. Các hải đồn trên bờ dù phải chống đỡ quân tấn công của Hoàng Văn Khánh vẫn nã đạn pháo tới tấp vào thuyền quân Nguyễn. Tướng Võ Di Nguy trúng đạn chết trên soái thuyền. Phó tướng của Di Nguy là Nguyễn Phú Nhu hoảng sợ cho thuyền thoái lui. Tả quân Lê Văn Duyệt tức giận sai chém đầu Nguyễn Phú Nhu rồi thúc quân tiếp tục tiến trong mưa đạn. Quân Tây Sơn vẫn chống trả quyết liệt khiến quân Nguyễn chết vô kể. Nguyễn Vương thấy sĩ tốt tử thương nhiều, truyền lệnh cho Lê Văn Duyệt tạm lui quân. Duyệt không thoái binh, vẫn thúc quân xông lên. Đến giờ Thân chiến thuyền quân Nguyễn đã vào sâu trong vịnh Thị Nại. Các thuyền chứa đuốc hỏa chiến thừa chiều gió phóng đánh cháy 3 thuyền đại hiệu mang tên Định Quốc do chính Đô đốc Võ Văn Dũng chỉ huy. Lửa cháy lan tới các thuyền khác. Thuyền Tây Sơn bị thiêu hủy gần hết. Xác quân Tây Sơn chết nổi đầy mặt vịnh. Quân Nguyễn đã chiếm giữ toàn cửa Thị Nại.

Võ Văn Dũng cùng các tùy tướng thoát được lên bờ đứng nhìn hạm đội của mình chìm trong khói lửa dữ dội, ngửa mặt lên trời than:“Đây chính là kế sách của Võ Tánh. Ta bị “Đệ nhất Gia Định Tam hùng” đả bại cũng không ân hận gì”. Rồi tập hợp tàn quân chạy về thành Bình Định ra mắt Trần Quang Diệu, nói: “Chúng ta đã thua kẻ đang bị hãm trong thành kia rồi.”

Diệu hoảng sợ hỏi: “Ông về đây nói thế là sao? Tôi đang định dẫn quân đến trợ chiến cho ông.”

Dũng nói: “Thủy binh ta tan tành rồi, chẳng còn gì mà cứu nữa. Ông khá đốc quân vây chặt thành. Đây là kế “Vây Ngụy cứu Triệu của Võ Tánh.” Nếu lúc này ông chia quân cứu Thị Nại, Võ Tánh trong thành sẽ đánh ra, quân Nguyễn ngoài kia đánh thốc vào lưng ta, “nội công ngoại kích”, ta sẽ đại bại.

Trong thành Bình Định, Võ Tánh và Ngô Tùng Châu cùng các tướng lên mặt thành nhìn về phía đầm Thị Nại thấy lửa cháy sáng rực cùng tiếng đại pháo, tiếng trống trận, tiếng reo hò vang trời của quân hai bên. Võ Tánh cả cười nói với Ngô Tùng Châu:

- Quân ta đại thắng rồi. Trận Thị Nại này sẽ được ghi vào sử xanh như đại chiến Xích Bích thời Tam quốc. Ta mau xuống dưới, tập hợp quân, chờ bên địch có biến, dốc sức đánh ra sẽ phá được vòng vây.

Nhưng bên ngoài thành, Trần Quang Diệu theo lời Võ Văn Dũng đã vẫn giữ quân bao vây nghiêm ngặt.

Nói về Nguyễn Vương đang đứng trên soái hạm đốc chiến, Tả quân Lê Văn Duyệt đi thuyền nhẹ đến trình tâu:

- Tâu Chúa Thượng, trận thủy chiến đã chung cuộc. Toàn hạm đội Tây Sơn bị đánh tan. Quân Nguyễn đã làm chủ Thị Nại

Sáng hôm sau, Nguyễn Vương cho kiểm lại binh lực hai bên. Quân Nguyễn chết hơn 4 ngàn người trong đó có Đô đốc Võ Duy Nghi. Quân Tây Sơn 1800 thuyền chiến lớn nhỏ bị cháy, đắm cùng hơn 600 khẩu đại bác. Hơn 20 ngàn quân Tây Sơn chết, máu nhuộm đỏ đầm Thị Nại.

Nguyễn Vương than rằng:

- Ta thắng trận này có thể coi là võ công đệ nhất, nhưng lòng chưa vui vì ta đã mất hơn 4 ngàn quân thủy tinh nhuệ. Bình Định vẫn chưa được giải vây. Đô đốc Tây Sơn Võ Văn Dũng một mình chống cự ta cùng các tướng giỏi nhà Nguyễn lại có cả tướng Hải quân người Phan-lang-xa phò tá. Tuy Dũng đại bại nhưng vẫn là một hổ tướng. Họ Vũ - Võ thật nhiều người tài. Nếu ta có được nhiều tướng họ Vũ - Võ như vậy chẳng mấy lúc hoàn thành sự nghiệp.

Nguyễn Vương cho gọi Võ Cương đến bảo:

- Ta biết thương thế của ngươi chưa lành. Nhưng việc cần cho chủ tướng của ngươi, ta sai có làm được không?

Cương cúi đầu thưa:

- Dẫu phải chết cho tướng quân Võ Tánh, tiểu tướng cũng vâng mệnh.

Nguyễn Vương nói:

- Chính vì người họ Vũ - Võ trung nghĩa bất khuất, nên ta biết ngươi dù còn đang dưỡng thương cũng sẽ vì chủ mà đi. Vậy hãy trở lại thành Bình Định truyền mật chỉ của ta cho Võ tướng quân. Canh ba đêm nay ta sẽ cho quân đánh sau lưng Trần Quang Diệu khiến địch rối loạn. Khi có ba phát pháo lệnh, Võ tướng quân cấp tốc đem các tướng thân tín, bỏ thành thoát ra ngoài, quân ta sẽ đón.

Võ Cương phụng mệnh, cải trang làm lính Tây Sơn trà trộn trong đám tàn quân, lọt vào thành, dâng thánh chỉ. Võ Tánh cùng Ngô Tùng Châu gặp lại Võ Cương mừng rỡ vô cùng, nghe thuật lại chuyện ba tùy tướng liều mình phá vây, đều nhỏ lệ cảm thương cho hai tướng tử trận.

Tiếp đọc thánh chỉ, Võ Tánh bàn cùng Ngô Tùng Châu thảo tấu thư trình Nguyễn Vương:

“Hiện nay đại quân bộ của Tây Sơn đang vây hãm thành Bình Định. Quân giữ Phú Xuân rất thưa thớt. Nếu lúc này tiến đánh ắt chiếm được Phú Xuân, đại cuộc sẽ định đoạt. Phận thần, làm tướng không giữ được thành thì chết với thành, là lẽ đương nhiên, huống hồ cái chết của thần sẽ góp phần thống nhất giang sơn, thần có thể mỉm cười nơi chín suối. Thánh thượng là đấng thiên tử, chẳng nên vì chút tình riêng với thần mà xem nhẹ đại nghiệp. Thần rập đầu cúi xin Thánh thượng hãy cấp tốc đem đại binh ra Bắc đánh chiếm Phú Xuân”.

Thảo xong tấu thư, lại sai Võ Cương đem đi.

Nguyễn Vương đọc tấu thư của Võ Tánh, cho triệu các tướng lại, nói:

- Võ Tánh theo ta từ ngày đầu lập nghiệp, cùng ta nếm trải bao phen cơ khổ, nay nghiệp lớn chưa thành, một ngày vinh hoa chưa hưởng. Ta ra đi là bỏ mặc Võ Tánh chết mà không cứu, sau này sao có thể ngôi trên ngai vàng mà nhìn quần thần?

Các tướng đều thấy chuyện nan giải không biết nói sao. Tả quân Lê Văn Duyệt bước ra tâu:

- Tướng quân Võ Tánh bị vây khốn đã lâu, Chúa Thượng cùng chúng thần đã mấy lần giải cứu bất thành. Nay nếu vì một Võ Tánh mà ở lại giao chiến với Trần Quang Diệu, quân ta sẽ bị tổn thất nhiều, vì Diệu là tướng giỏi hiện có trong tay đại binh lực của Tây Sơn ở đây. Chưa biết có cứu được Võ Tánh không, còn chiến cuộc vẫn sẽ liên miên chưa kết thúc. Võ Tánh là người trung nghĩa đến cả hai bên Chính - Tà đều cảm phục, e điều đó khó hợp lòng Võ tướng quân. Thánh thượng là thiên tử. Xin hãy vì đại nghiệp mà nghe lời Võ Tánh”.

Nguyễn Vương ngẫm nghĩ một lát rồi tuyên bãi chầu. Sáng hôm sau Vương truyền lệnh hợp toàn quân thủy bộ tiến về Phú Xuân. Nhưng vẫn giao cho tướng Nguyễn Văn Thành cầm năm ngàn quân ở lại kìm hãm Trần Quang Diệu, hẹn hạ thành Phú Xuân xong sẽ quay lại giải vây cho Võ Tánh.

Ngày 18 tháng Giêng Tân Dậu (1801), Nguyễn Vương cho quân ra Bắc. Trước khi soái thuyền nhổ neo, Vương quỳ xuống sàn thuyền hướng về thành Bình Định khóc mà bái vọng Võ Tánh. Quan tướng xung quanh ai nấy đều ngậm ngùi, cảm phục Nguyễn Vương vì nhân nghĩa mà hạ mình trước bề tôi.

 

Đại quân Nguyễn đi rồi, thành Bình Định thêm khốn quẫn. Quân lính có kẻ quá đói lại thấy quân nhà bỏ đi không giải cứu, nên cũng không thiết giữ quân lệnh, đã trộm cắp lương thực của dân trong thành. Võ Tánh cho mang tên lính ra trước ba quân và dân chúng, nói:

- Ta giữ thành được tới hôm nay là do dân ủng hộ. Nếu quân ta ai cũng như kẻ này thì dân nào còn ủng hộ quân trộm cướp? Đem chém!”

Tên lính khóc van xin:

- Xin chủ tướng tha mạng, chúng con quá đói nên mới làm liều.

Dân chúng cũng quỳ xin tha chết cho tên lính. Võ Tánh ngửa mặt lên trời than rằng:

- Để quân như thế này là tội ở ta. Các ngươi cố chịu đựng đến ngày mai, ta sẽ đã có cách giải thoát cho các ngươi khỏi cảnh này. Nói đoạn ông quay về lầu chỉ huy, nói với Tham tri Ngô Tùng Châu: “Ta đi đây. Ngô huynh ở lại bảo trọng.”

Ngô Tùng Châu hiểu ý, cười nói: “Võ đã trung cương, lẽ đâu Văn lại không nghĩa khí. Tôi xin vô phép đi trước tướng quân.” Rồi về phòng riêng uống thuốc độc mà chết.

Võ Tánh viết một bức thư tâm huyết gửi hai tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng. Đoạn, mặc triều phục, bày hương án quỳ bái vọng Nguyễn Vương, giã từ các tướng sĩ, lên lầu Bát giác, sai quân đem thuốc súng cùng củi khô đến, rồi đóng cửa phóng hỏa tự thiêu. Quân dân trong thành đều rơi lệ.

Võ Tánh và Ngô Tùng Châu chết, quân Nguyễn mở cửa thành đầu hàng. Trần Quang Diệu vào thành, tiếp đọc thư tuyệt mệnh của Võ Tánh. Trong thư lời lẽ bi ai thống thiết:

Như đã nói cùng Đô đốc Võ Văn Dũng, thân làm tướng, ta không giữ được thành tất phải chết theo thành. Chỉ có một nguyện vọng sau cùng, quân sĩ trong thành vô tội, xin các ngài hãy vì đức lớn mà không làm hại, cũng như ngày trước khi chiếm được thành Quy Nhơn, quân Nguyễn đã không giết hại những binh sĩ Tây Sơn giữ thành”.

Trần Quang Diệu cảm động, ra lệnh tẩm liệm thi hài Võ Tánh và Ngô Tùng Châu làm an táng trang trọng.

Rồi cho tập hợp tàn quân Nguyễn trong thành lại, nói với chúng:

- Các ngươi may mắn có được một chủ tướng kiên trung mà cả dân chúng lẫn đối thủ đều kính phục. Nay, theo ước nguyện của tướng Võ Tánh, ta cho phép các người có thể ở lại Quy Nhơn này lập nghiệp, hoặc trở lại quê nhà làm ăn, thậm chí có thể quay trở về với Nguyễn Ánh chống lại Tây Sơn. Ta đảm bảo mạng sống cho các ngươi rời khỏi thành.”

Ở Gia Định, hay tin phu quân tuẫn tiết, hiền thê của Võ Tánh - công chúa Ngọc Du đau đớn ngất đi. Rồi sau nàng làm bài thơ khóc chồng như sau:

Trí dũng ra tay giúp nước nhà
Phải thời bình địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Đau lòng thục nữ mắt lệ nhòa!

............

BÃO VŨ (Vũ Bão)Viết xong ngày 9 tháng Chạp năm Quý Tỵ

_______________________________________

Truyện này được viết dựa theo những sử liệu trong: Đại Nam thực lục chính biên, Quốc sử quán Nguyễn triều, Khâm định Việt sử,... các websites:vi.wikipedia.org; vnmilitaryhistory.net; blog.ngochieu.com;reds.vn...và các tài liệu liên quan trên Internet.

(1) Gia Định tam hùng là danh hiệu người đời phong tặng cho ba vị danh tướng của Nguyễn Ánh gồm: Võ Tánh, Đỗ Thanh NhơnChâu Văn Tiếp.

(2) Tây Sơn Thất Hổ tướng là danh hiệu của bảy vị tướng, thủ lĩnh tài giỏi của nhà Tây Sơn: Võ Văn Dũng, Võ Ðình Tú‎, Trần Quang Diệu, Nguyễn Văn Tuyết, Lê Văn Hưng, Lý Văn BưuNguyễn Văn Lộc.

(3) Theo bức ký họa của họa sĩ người Anh W. Alexander, thời đó bộ binh Tây Sơn trang bị đao cán gỗ dài như mái chèo.

(4) Trận Xích Bích đời Tam Quốc. Khổng Minh dùng kế hỏa công giúp liên quân Thục-Ngô phá tan thủy quân của Tào Tháo nước Ngụy.

(5) Thời Chiến quốc, Thiệp Nhàn tướng nước Triệu giữ thành Cự Lộc, bị Hạng Vũ tiến đánh vây bức đã không chịu đầu hàng, tự thiêu mà chết.

(6) Theo các sử liệu, thời kỳ này, những trợ giúp Nguyễn Ánh về quân sự không phải là của chính phủ Pháp mà là tự nguyện của một số cá nhân theo vận động của Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine). Dự trận Thị Nại, bên quân Nguyễn còn có ba sĩ quan hải quân người Pháp là Vannier (tên Việt là Nguyễn Văn Chấn) thuyền trưởng tàu Le Phénix; Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng) thuyền trưởng tàu Le Dragon và De Forsans (Lê Văn Lăng) thuyền trưởng tàu L’aigle.

Bài viết liên quan